Trên tờ khai xuất, bán FOB hay CIF ra cùng một trị giá hải quan: trị giá hàng xuất khẩu được xác định là giá bán tính tới cửa khẩu xuất, không gồm phí vận tải quốc tế và phí bảo hiểm quốc tế. Bán CIF thì khi khai phải tách cước và bảo hiểm ra khỏi giá hoá đơn. Với cà phê rang xay, thứ thường không có tên trong biểu thuế xuất khẩu, trị giá này chủ yếu phục vụ thống kê và đối chiếu, nhưng vẫn phải khai đúng.
Khác biệt thật nằm ở sổ sách và rủi ro. Bán CIF, doanh thu ghi nhận theo giá CIF, doanh nghiệp tự thuê tàu, mua bảo hiểm, nhận hoá đơn cước và lo khiếu nại nếu hàng hỏng. Bán FOB, doanh thu thấp hơn nhưng gọn hơn. Bài này đặt hai cách cạnh nhau bằng một lô cà phê giả định, và chỉ những chỗ kế toán, người làm tờ khai hay khai lệch nhau.
Hai cách bán nhìn từ tờ khai xuất
| Nội dung | Bán FOB | Bán CIF |
|---|---|---|
| Giá trên hoá đơn và hợp đồng | Giá hàng giao lên tàu ở cảng Việt Nam | Giá hàng cộng cước và bảo hiểm tới cảng đến |
| Trị giá hải quan khai | Giá FOB | Giá CIF trừ cước quốc tế và bảo hiểm quốc tế |
| Chứng từ phải có để tách | Không cần | Hoá đơn cước, chứng từ bảo hiểm của lô |
| Ai lo thuê tàu | Người mua | Người bán Việt Nam |
| Rủi ro hàng dọc đường | Người mua chịu từ khi hàng lên tàu | Người mua cũng chịu từ khi hàng lên tàu; người bán chỉ phải mua bảo hiểm cho người mua hưởng |
Nhiều người nghĩ bán CIF là người bán chịu rủi ro tới cảng đến. Thực ra điểm chuyển rủi ro của CIF vẫn là khi hàng lên tàu; người bán chỉ gánh thêm chi phí cước và bảo hiểm. Nếu người mua muốn người bán chịu rủi ro tới tận nơi, đó là các điều kiện nhóm giao tại nơi đến, một câu chuyện khác.
Ví dụ giả định: một container cà phê rang xay
Giả sử một xưởng rang xuất 10 tấn cà phê rang xay đóng bao cho một nhà nhập khẩu ở châu Âu. Người mua đề nghị hai giá: FOB 6,0 USD/kg hoặc CIF 6,3 USD/kg. Xưởng hỏi đơn vị giao nhận thì cước chặng quốc tế là 2.600 USD, bảo hiểm 200 USD. Tỷ giá giả định 25.000 đồng/USD.
| Khoản | Bán FOB | Bán CIF |
|---|---|---|
| Giá hoá đơn (USD) | 60.000 | 63.000 |
| Trị giá khai tờ khai xuất (USD) | 60.000 | 63.000 − 2.600 − 200 = 60.200 |
| Doanh thu ghi sổ (đồng) | 1.500.000.000 | 1.575.000.000 |
| Chi phí cước, bảo hiểm (đồng) | 0 | 70.000.000 |
| Chênh lệch còn lại cho người bán (đồng) | — | +5.000.000 so với FOB |
Bán CIF trong ví dụ này lãi thêm khoảng 5 triệu đồng, đổi lại người bán phải lo thuê tàu, theo dõi lịch tàu, mua bảo hiểm, và chịu nguy cơ cước tăng giữa lúc báo giá và lúc đặt chỗ. Nếu cước tăng 300 USD, phần lãi thêm biến mất. Vì thế bán CIF chỉ đáng khi xưởng có giao nhận ổn định và báo giá có điều khoản điều chỉnh khi cước biến động.
Để ý dòng trị giá khai: bán CIF, trị giá khai là 60.200 USD chứ không phải 63.000. Khai nguyên giá CIF là lỗi phổ biến; không làm thay đổi thuế với mặt hàng không chịu thuế xuất khẩu, nhưng làm số liệu tờ khai lệch với cách xác định trị giá và gây khó khi đối chiếu.
Doanh thu, hoá đơn và thuế giá trị gia tăng 0%
Về thuế giá trị gia tăng, hàng hoá xuất khẩu áp thuế suất 0% theo Luật 48/2024/QH15 khi đủ điều kiện: có hợp đồng, có thanh toán qua ngân hàng, có tờ khai hải quan. Với hai cách bán:
- Doanh thu tính thuế theo giá bán trên hoá đơn, tức 60.000 hay 63.000 USD quy đổi. Không tách cước ra khỏi doanh thu khi bán CIF.
- Hoá đơn: lập hoá đơn điện tử cho hàng xuất khẩu theo quy định hiện hành về hoá đơn, chứng từ; nội dung, đồng tiền, tỷ giá trên hoá đơn phải khớp với hợp đồng và tờ khai.
- Cước và bảo hiểm người bán CIF mua vào: nhận hoá đơn từ giao nhận, hãng bảo hiểm; dịch vụ vận tải quốc tế có thể áp thuế suất 0%, phần phí dịch vụ trong nước áp thuế suất khác. Các khoản này là chi phí bán hàng, có chứng từ thì được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp.
Tiền người mua thanh toán về tài khoản ngân hàng của doanh nghiệp phải khớp với tổng giá trị hoá đơn, trừ các khoản phí ngân hàng. Chênh lệch lớn không giải thích được sẽ bị hỏi khi xét điều kiện thuế suất 0% hoặc khi hoàn thuế.
Cà phê rang xay: những điều riêng của mặt hàng
- Mã HS: cà phê rang, đã hoặc chưa khử caffeine, khác mã cà phê nhân và khác cà phê hoà tan. Cà phê rang xay pha trộn phụ gia, hương liệu có thể chuyển sang nhóm chế phẩm từ cà phê. Mã đúng quyết định cả thống kê, chứng từ xuất xứ lẫn thuế ở nước người mua.
- Thuế xuất khẩu: cà phê rang xay thường không nằm trong nhóm hàng chịu thuế xuất khẩu, nhưng vẫn nên tra biểu thuế hiện hành cho mã của mình.
- Yêu cầu của nước nhập khẩu: an toàn thực phẩm, dư lượng, nhãn, và ở một số thị trường là yêu cầu truy xuất nguồn gốc liên quan tới chống phá rừng. Những yêu cầu này thường được ghi trong hợp đồng và ảnh hưởng tới việc chọn cách bán: người mua muốn tự kiểm soát vận chuyển thì chọn FOB.
- Chứng từ xuất xứ: cà phê trồng và rang tại Việt Nam thường đạt xuất xứ; giúp người mua hưởng ưu đãi thuế nhập khẩu ở nước họ, một điểm cộng khi đàm phán giá.
Xưởng rang thường nhập bao bì van một chiều, máy rang hoặc phụ tùng. Chiều nhập đó mới là chỗ tốn thuế; có thể ước bằng công cụ ước tính thuế nhập khẩu tại thuequan.com/uoc-tinh/thue-nhap-khau để đưa vào giá thành trước khi báo giá xuất.
Khi nào nên bán FOB, khi nào bán CIF
Bán FOB hợp khi xưởng mới xuất khẩu, chưa có giao nhận quen, người mua có mạng lưới vận chuyển riêng, hoặc lô hàng nhỏ, lịch tàu không cố định. Bán CIF hợp khi xưởng xuất đều, có hợp đồng cước tốt, muốn giữ khách bằng dịch vụ trọn gói, hoặc người mua là nhà nhập khẩu nhỏ không tự thuê tàu được.
Dù chọn cách nào, hợp đồng nên ghi rõ điều kiện giao hàng kèm phiên bản quy tắc điều kiện giao hàng, cảng đi, cảng đến, và nếu bán CIF thì mức bảo hiểm và điều khoản khi cước biến động.
Một cách làm dung hoà nhiều xưởng dùng là báo cả hai giá trong cùng thư chào hàng, kèm thời hạn hiệu lực ngắn cho giá CIF. Người mua tự chọn theo năng lực vận chuyển của họ, còn xưởng không bị kẹt với một giá cước đã cũ. Khi người mua chọn CIF, xưởng nên đặt chỗ với giao nhận ngay sau khi ký hợp đồng thay vì chờ tới lúc hàng rang xong.
Với kế toán, nên thống nhất một quy tắc nội bộ: mọi lô bán CIF đều có một dòng theo dõi chi phí cước, bảo hiểm gắn với số tờ khai và số hoá đơn bán. Cuối kỳ, cộng dòng này lại và so với doanh thu CIF để biết thật sự bán CIF có lãi thêm hay không, thay vì cảm tính.
Tự kiểm tra ở đâu
Quy định về trị giá hải quan hàng xuất khẩu và biểu thuế xuất khẩu tra trên cổng thông tin của cơ quan hải quan; tờ khai xuất, trị giá đã khai, trạng thái thông quan xem trên hệ thống khai hải quan điện tử. Hoá đơn điện tử đã lập cho lô hàng và hoá đơn cước, bảo hiểm mua vào tra trên cổng hoá đơn điện tử của cơ quan thuế. Điều kiện thuế suất 0% và hồ sơ hoàn thuế giá trị gia tăng tra tại cơ quan thuế quản lý hoặc qua tài khoản thuế điện tử.
Câu hỏi thường gặp
Bán CIF mà không có hoá đơn cước riêng thì tách trị giá thế nào?
Cần có chứng từ thể hiện cước và bảo hiểm của lô, như hoá đơn của giao nhận hoặc hợp đồng bảo hiểm. Không có chứng từ, việc tách trị giá thiếu căn cứ; nên yêu cầu giao nhận xuất hoá đơn tách riêng cước chặng quốc tế.
Doanh thu xuất khẩu ghi theo tỷ giá nào?
Doanh thu ghi nhận theo tỷ giá quy định trong chế độ kế toán và pháp luật thuế tại thời điểm ghi nhận doanh thu. Tỷ giá trên tờ khai là tỷ giá tính thuế của hải quan, có thể khác; không cần ép hai con số trùng nhau nhưng phải giải thích được.
Người mua trả thiếu vì trừ phí ngân hàng thì có mất thuế suất 0% không?
Phí ngân hàng bị trừ là chuyện bình thường và được xử lý như chi phí. Cần lưu chứng từ ngân hàng thể hiện khoản phí để giải thích phần chênh giữa hoá đơn và số tiền thực nhận.
Bán CIF, hàng bị ướt trên đường thì ai đi đòi bảo hiểm?
Theo CIF, rủi ro đã chuyển sang người mua khi hàng lên tàu, nên người mua là người đòi bồi thường. Người bán phải chuyển giao chứng từ bảo hiểm hợp lệ để người mua đòi được.
Có thể báo giá FOB nhưng vẫn thuê tàu giúp người mua không?
Được, nếu hai bên thoả thuận người bán thay mặt người mua thuê tàu và thu lại cước. Khi đó cần tách rõ khoản thu hộ, để doanh thu bán hàng vẫn là giá FOB và khoản cước không bị ghi nhầm vào doanh thu.
Cà phê rang xay xuất theo đường chuyển phát nhanh có khác gì container không?
Trị giá và nguyên tắc tính vẫn như vậy, nhưng tờ khai thường do doanh nghiệp chuyển phát khai theo quy trình riêng. Người bán vẫn cần hợp đồng, hoá đơn và chứng từ thanh toán nếu muốn áp thuế suất giá trị gia tăng 0%.