Với rau quả tươi, đa số mặt hàng không có thuế xuất khẩu; nghĩa vụ thuế chủ yếu nằm ở phía trong nước: thuế giá trị gia tăng 0% cho hàng xuất khẩu đủ điều kiện và chứng từ thu mua hợp lệ. Thứ quyết định lô hàng có đi được hay không lại là yêu cầu kiểm dịch, mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói của nước nhập khẩu, cùng giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật khớp với tờ khai hải quan.
Cho nên thứ tự làm việc là đi ngược từ nước mua: họ đòi gì thì chuẩn bị cái đó trước, rồi mới tới thủ tục hải quan Việt Nam. Làm ngược lại, hàng đã đóng container mà giấy tờ phía nước nhập chưa đủ là tình huống hay gặp nhất và cũng đắt nhất.
Bắt đầu từ yêu cầu của nước nhập khẩu
Mỗi thị trường có bộ yêu cầu riêng cho từng loại quả, loại rau. Trước khi nhận đơn hàng đầu tiên, trả lời được năm câu:
- Mặt hàng này đã được mở cửa vào thị trường đó chưa, hay còn đang trong quá trình đàm phán kỹ thuật?
- Có yêu cầu mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói đã được nước nhập khẩu chấp nhận không?
- Có yêu cầu xử lý kiểm dịch như chiếu xạ, xử lý nhiệt, xử lý lạnh không, làm ở đâu?
- Giới hạn dư lượng thuốc bảo vệ thực vật của nước đó với hoạt chất đang dùng tại vùng trồng là bao nhiêu?
- Quy định về bao bì, nhãn, truy xuất nguồn gốc, chứng nhận an toàn thực phẩm của nhà nhập khẩu?
Nguồn trả lời chính xác nhất là cơ quan bảo vệ và kiểm dịch thực vật trong nước, nơi theo dõi các thoả thuận kỹ thuật với từng nước, và chính nhà nhập khẩu bên kia. Đừng dựa vào lô hàng của người khác “vẫn đi được”, vì yêu cầu có thể đổi theo từng mùa vụ.
Mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói: không mượn được
Mã số vùng trồng gắn với một diện tích cụ thể, có chủ thể quản lý, nhật ký canh tác, hồ sơ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và được giám sát định kỳ. Mã số cơ sở đóng gói gắn với một xưởng cụ thể đáp ứng điều kiện vệ sinh, phân loại, truy xuất. Hai mã này là căn cứ để nước nhập khẩu truy ngược khi có sự cố.
Những việc không nên làm:
- Dùng mã của vùng khác cho hàng thu mua ngoài vùng. Khi nước nhập khẩu phát hiện hàng không khớp, mã có thể bị tạm dừng, ảnh hưởng cả những người làm đúng trong vùng.
- Gộp hàng nhiều nguồn vào một lô mà không tách được theo mã, rồi khai chung một mã.
- Bỏ qua nhật ký canh tác vì nghĩ chỉ để đối phó. Đó chính là tài liệu chứng minh khi có cảnh báo dư lượng.
Với doanh nghiệp thu mua, cách an toàn là ký hợp đồng liên kết với chủ thể quản lý vùng trồng có mã, thu mua theo từng lô có ghi mã, và giữ phiếu cân, phiếu nhập kho theo lô.
Kiểm dịch thực vật và tờ khai phải khớp nhau
Giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật do cơ quan kiểm dịch cấp sau khi kiểm tra lô hàng. Trên thực tế, lỗi hay gặp không nằm ở chuyên môn kiểm dịch mà ở chứng từ không khớp nhau:
| Thông tin | Phải khớp giữa |
|---|---|
| Tên hàng, tên khoa học | Giấy kiểm dịch, hợp đồng, hoá đơn |
| Khối lượng, số kiện | Giấy kiểm dịch, phiếu đóng gói, tờ khai xuất khẩu |
| Mã vùng trồng, mã cơ sở đóng gói | Giấy kiểm dịch, nhãn trên thùng, hồ sơ nước nhập |
| Người xuất khẩu, người nhận | Giấy kiểm dịch, vận đơn, hoá đơn |
| Số container, số niêm phong | Giấy kiểm dịch nếu có ghi, vận đơn, tờ khai |
Hàng tươi không chờ được. Một sai lệch nhỏ phải sửa giấy tờ sau khi tàu chạy có thể khiến lô hàng bị giữ ở cảng đích tới lúc hỏng. Nên có một người soát chéo toàn bộ chứng từ trước khi đóng container.
Mã HS: tươi, ướp lạnh, đông lạnh hay đã sơ chế
Cùng một loại quả, trạng thái khi xuất quyết định mã HS:
- Tươi hoặc ướp lạnh: nằm ở các chương rau, quả.
- Đông lạnh chưa qua chế biến khác: vẫn ở chương rau, quả nhưng nhóm khác.
- Sấy khô: có nhóm riêng trong chương rau, quả tuỳ mặt hàng.
- Đã chế biến, bảo quản bằng đường, giấm, hoặc cách khác vượt quá mức các chương rau quả cho phép: chuyển sang chương các chế phẩm từ rau, quả.
Mã HS ảnh hưởng tới ba thứ: nhóm có tên trong biểu thuế xuất khẩu hay không, thuế suất và điều kiện ưu đãi ở nước nhập khẩu, và yêu cầu kiểm dịch hay an toàn thực phẩm. Quả đông lạnh và quả tươi có thể theo hai bộ yêu cầu khác nhau ở cùng một thị trường.
Phía trong nước: thu mua, hoá đơn và thuế giá trị gia tăng
Doanh nghiệp xuất khẩu nông sản thường mua trực tiếp của nông dân, tổ hợp tác, hợp tác xã. Việc cần chắc:
- Mua của nông dân tự trồng không có hoá đơn: lập bảng kê thu mua theo mẫu quy định, có thông tin người bán, số lượng, đơn giá, chữ ký. Bảng kê là căn cứ ghi nhận chi phí.
- Mua của thương lái, doanh nghiệp: phải có hoá đơn; không dùng bảng kê thay hoá đơn cho trường hợp này.
- Thanh toán: ưu tiên chuyển khoản, giữ sao kê. Mua lượng lớn trả tiền mặt cho nhiều người là chỗ bị hỏi nhiều khi quyết toán.
- Thuế giá trị gia tăng khâu xuất khẩu: hàng xuất khẩu áp 0% khi đáp ứng điều kiện về hợp đồng, thanh toán không dùng tiền mặt và tờ khai hải quan. Chi tiết ở bài xuất khẩu hàng hoá: thuế GTGT 0% và điều kiện hồ sơ.
Cách xử lý thuế giá trị gia tăng đối với nông sản chưa qua chế biến ở các khâu mua bán trong nước có quy định riêng và đã thay đổi theo Luật Thuế giá trị gia tăng 48/2024/QH15; nên để kế toán tra đúng quy định đang áp dụng cho trường hợp của mình.
C/O cho nông sản: thuần tuý là thuần tuý
Rau quả trồng và thu hoạch tại Việt Nam đáp ứng tiêu chí xuất xứ thuần tuý, là tiêu chí dễ chứng minh nhất. Nhưng chỉ khi đó đúng là hàng trồng tại Việt Nam.
- Hàng thu mua từ nước láng giềng rồi phân loại, đóng gói lại tại Việt Nam không trở thành hàng Việt Nam. Phân loại, rửa, đóng gói là công đoạn đơn giản.
- Hồ sơ xin C/O cần thể hiện nguồn gốc: hợp đồng liên kết vùng trồng, bảng kê thu mua, phiếu nhập kho có mã vùng trồng.
- Ghi sai xuất xứ, dù vô tình, có thể làm người mua mất ưu đãi và khiến nước nhập khẩu siết kiểm tra với cả mặt hàng.
Khi lô hàng bị cảnh báo hoặc bị trả về
Nước nhập khẩu có thể cảnh báo về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, sinh vật gây hại, hoặc chứng từ không khớp. Hệ quả có thể là tiêu huỷ, trả về, hoặc tạm dừng mã vùng trồng, mã cơ sở đóng gói. Việc cần làm:
- Nhận văn bản cảnh báo qua nhà nhập khẩu và cơ quan kiểm dịch, xác định lô, mã vùng trồng, mã cơ sở liên quan.
- Truy xuất nhật ký canh tác, phiếu thu mua, kết quả kiểm nghiệm trước xuất của lô đó.
- Phối hợp với cơ quan kiểm dịch để giải trình và khắc phục, nếu muốn khôi phục mã.
- Nếu hàng được trả về, làm thủ tục tái nhập đúng loại hình để không phát sinh thuế nhập khẩu theo quy định về hàng xuất khẩu bị trả lại, đồng thời điều chỉnh doanh thu và hoá đơn phía trong nước.
Tự tra: cơ quan bảo vệ và kiểm dịch thực vật cho yêu cầu từng thị trường và danh sách mã số đã được chấp nhận; cổng thông tin điện tử của hải quan cho biểu thuế xuất khẩu; hệ thống khai hải quan điện tử cho trạng thái tờ khai; cổng thông tin về hiệp định thương mại tự do của Bộ Công Thương cho thuế suất ưu đãi ở nước nhập khẩu.
Câu hỏi thường gặp
Nông sản xuất khẩu có phải nộp thuế xuất khẩu không?
Phần lớn rau quả tươi không có tên trong biểu thuế xuất khẩu hoặc có thuế suất 0%. Tuy vậy nên tra biểu thuế xuất khẩu hiện hành theo đúng mã HS trước khi báo giá, vì một số nhóm nông, lâm sản dạng thô vẫn có thể có thuế.
Doanh nghiệp thương mại không có vùng trồng có xuất khẩu được không?
Được, nếu thu mua từ vùng trồng có mã và giữ được truy xuất theo lô. Doanh nghiệp thương mại thường ký liên kết với hợp tác xã hoặc chủ thể quản lý vùng trồng để làm việc này.
Giấy kiểm dịch ghi sai khối lượng thì sửa thế nào?
Liên hệ ngay cơ quan kiểm dịch đã cấp để đề nghị cấp lại hoặc cấp thay thế theo thủ tục, đồng thời báo nhà nhập khẩu. Nếu tờ khai hải quan cũng sai, khai sửa tờ khai theo hướng dẫn trên hệ thống.
Mua nông sản của nông dân trả tiền mặt có được tính chi phí không?
Mua của người trực tiếp sản xuất có bảng kê thu mua đúng quy định vẫn là căn cứ ghi nhận chi phí. Nhưng thanh toán qua ngân hàng giúp chứng minh giao dịch có thật rõ ràng hơn nhiều, nhất là với số lượng lớn.
Hàng đông lạnh có cần mã vùng trồng như hàng tươi không?
Tuỳ thị trường và tuỳ mặt hàng. Một số nước áp yêu cầu truy xuất vùng trồng cho cả hàng đông lạnh, một số chỉ yêu cầu với hàng tươi. Hỏi cơ quan kiểm dịch và nhà nhập khẩu cho từng trường hợp.
Có cần C/O không nếu người mua không yêu cầu?
Không bắt buộc về phía Việt Nam. Nhưng nếu người mua có thể hưởng thuế suất ưu đãi nhờ C/O, việc cung cấp C/O là lợi thế cạnh tranh về giá, nên hỏi người mua từ đầu.