Nhập nguyên liệu dệt may, câu hỏi đầu tiên không phải thuế suất bao nhiêu mà là nhập theo loại hình nào: nhập kinh doanh để dùng cho hàng bán trong nước thì nộp thuế nhập khẩu theo mã HS và xuất xứ; nhập để sản xuất hàng xuất khẩu thì được miễn thuế nhập khẩu nếu đáp ứng điều kiện về cơ sở sản xuất và thực xuất sản phẩm; nhận gia công cho thương nhân nước ngoài thì nguyên liệu thuộc hợp đồng gia công và cũng được miễn. Chọn sai loại hình ngay từ tờ khai đầu tiên thì phần sau rất khó sửa.
Câu hỏi thứ hai là phân loại đúng. Vải và phụ liệu có hệ thống chú giải riêng, nhất là với vải pha nhiều loại sợi. Mã HS sai kéo theo thuế sai, và với hàng miễn thuế thì kéo theo lệch định mức, lệch quyết toán cuối năm.
Ba loại hình, ba chế độ thuế
| Loại hình | Khi nào dùng | Thuế nhập khẩu | Việc phải làm theo |
|---|---|---|---|
| Nhập kinh doanh | Vải dùng cho hàng bán trong nước, hoặc chưa chắc sẽ xuất khẩu | Nộp theo mã HS, thuế suất theo xuất xứ | Được xem xét hoàn nếu sau đó dùng sản xuất hàng xuất khẩu và đủ điều kiện |
| Sản xuất xuất khẩu | Doanh nghiệp tự sản xuất, tự bán thành phẩm ra nước ngoài | Miễn nếu đáp ứng điều kiện | Thông báo cơ sở sản xuất, định mức, báo cáo quyết toán |
| Gia công | Nhận nguyên liệu của bên thuê nước ngoài để may, trả thành phẩm | Miễn trong phạm vi hợp đồng gia công | Hợp đồng gia công, định mức, báo cáo quyết toán, xử lý nguyên liệu dư |
Nhiều xưởng làm cả hàng xuất khẩu lẫn hàng nội địa từ cùng một loại vải. Khi đó phải tách kho, tách sổ theo loại hình, hoặc chấp nhận nhập kinh doanh rồi xin hoàn phần dùng cho xuất khẩu. Trộn chung một kho mà khai sản xuất xuất khẩu toàn bộ là nguồn chênh lệch lớn nhất khi hải quan kiểm tra.
Phân loại vải pha: đếm theo trọng lượng sợi
Chú giải phần nguyên liệu dệt và sản phẩm dệt đặt ra nguyên tắc: vải làm từ hai loại vật liệu dệt trở lên được phân loại như thể làm toàn bộ bằng loại vật liệu chiếm trọng lượng lớn nhất. Nếu không có loại nào trội hơn, xếp theo nhóm đứng sau cùng theo thứ tự số trong các nhóm ngang nhau.
Áp vào thực tế:
- Vải bông pha polyester: phải biết tỷ lệ trọng lượng từng loại sợi, không phải tên gọi thương mại.
- Vải có sợi đàn hồi: phần trăm nhỏ nhưng vẫn phải khai trong thành phần, và có thể ảnh hưởng đến việc phân loại ở cấp phân nhóm.
- Các loại sợi cùng một nhóm vật liệu, ví dụ các loại sợi tổng hợp khác nhau, được cộng lại khi so trọng lượng với nhóm khác.
Sau khi biết vật liệu trội, còn phải xét cấu tạo: dệt thoi, dệt kim hay móc, vải không dệt, vải đã ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép lớp. Mỗi dạng nằm ở chương hoặc nhóm khác nhau. Vải dệt kim và vải dệt thoi cùng thành phần có mã rất xa nhau.
Phụ liệu: mỗi món một nhóm riêng
Phụ liệu may mặc thường nhập chung một lô với vải nhưng không đi theo mã của vải. Mỗi món có chỗ riêng trong danh mục:
- Chỉ may: phân loại theo vật liệu và việc đã đóng gói để bán lẻ hay chưa.
- Khoá kéo, cúc, khuy bấm: có nhóm riêng trong chương các mặt hàng khác, phân loại theo vật liệu của răng, của cúc.
- Nhãn dệt, nhãn in, phù hiệu: nhãn dệt thuộc nhóm hàng dệt; nhãn bằng giấy, bằng plastic đi theo vật liệu.
- Dựng, mex, bông lót: có thể là vải không dệt, vải đã tráng phủ, hoặc mền xơ, tuỳ cấu tạo.
- Dây chun, băng viền: theo cấu tạo, khổ rộng và thành phần.
Với loại hình sản xuất xuất khẩu và gia công, mỗi phụ liệu còn là một mã nguyên liệu trong định mức. Ghi tên chung chung như “phụ liệu may” trên tờ khai là tự tạo khó khăn khi quyết toán.
Chứng từ thành phần và khi bị lấy mẫu
Mô tả vải trên tờ khai nên đủ để người đọc hình dung được món hàng mà không cần nhìn mẫu:
| Thông tin | Vì sao cần |
|---|---|
| Thành phần sợi theo tỷ lệ trọng lượng | Quyết định chương, nhóm |
| Kiểu dệt: dệt thoi, dệt kim, không dệt | Quyết định chương |
| Trọng lượng trên mét vuông, khổ vải | Quyết định phân nhóm với nhiều loại vải |
| Trạng thái: mộc, tẩy trắng, nhuộm, in, từ các sợi màu khác nhau | Quyết định phân nhóm |
| Xử lý bề mặt: tráng, phủ, ép lớp | Có thể chuyển sang nhóm khác hẳn |
Xin nhà cung cấp phiếu thông số kỹ thuật cho từng mã vải và lưu cùng hồ sơ. Khi lô hàng bị lấy mẫu phân tích, kết quả thành phần có thể lệch vài phần trăm so với phiếu; nếu lệch làm đổi vật liệu trội, mã HS đổi theo. Vải có tỷ lệ pha sát ngưỡng ngang nhau là loại nên cẩn thận nhất.
Xuất xứ của vải: hai chiều cùng quan trọng
Chiều nhập: vải nhập kinh doanh có C/O hợp lệ từ nước thành viên hiệp định có thể được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt. Đây là khoản tiết kiệm trực tiếp cho hàng bán nội địa.
Chiều xuất: với hàng may mặc xuất khẩu, nhiều hiệp định có quy tắc xuất xứ chặt với nguyên liệu. Có hiệp định yêu cầu công đoạn từ vải trở đi phải diễn ra trong khối, có hiệp định yêu cầu từ sợi trở đi. Nghĩa là quần áo may tại Việt Nam bằng vải nhập từ nước ngoài khối có thể không được hưởng ưu đãi khi vào thị trường đó, dù công đoạn cắt may hoàn toàn ở Việt Nam.
Vì vậy, bộ phận mua vải cần biết thành phẩm sẽ đi thị trường nào. Chọn nguồn vải chỉ theo giá rẻ nhất có thể làm mất ưu đãi của khách mua thành phẩm, và khách sẽ ép lại giá. Cách chọn hiệp định có lợi nhất có ở bài một mặt hàng, nhiều hiệp định.
Đơn vị tính, định mức và những chỗ lệch khi quyết toán
Vải có thể mua theo mét, yard, kilôgam hoặc mét vuông; hoá đơn một đơn vị, tờ khai một đơn vị, định mức lại dùng đơn vị khác. Ba chỗ hay gây chênh lệch:
- Quy đổi không thống nhất: cùng một mã vải, lô này quy đổi theo khổ thực tế, lô kia theo khổ danh nghĩa.
- Hao hụt cắt may thực tế khác định mức đã đăng ký, nhất là khi đổi mẫu mã giữa mùa.
- Vải dùng chung cho nhiều mã sản phẩm, nhiều hợp đồng mà không phân bổ ngay khi xuất kho.
Nên chốt một bảng quy đổi chuẩn cho từng mã vải và dùng thống nhất ở tờ khai, kho và định mức. Chuyện này nghe vụn vặt nhưng là nguyên nhân phổ biến của chênh lệch nhập, xuất, tồn ở ngành may.
Trị giá, kiểm tra chuyên ngành và chỗ tự kiểm tra
Vải giá thấp hơn nhiều so với dữ liệu giá của hải quan dễ bị tham vấn; giữ hồ sơ đàm phán giá và chứng từ thanh toán như với mọi hàng hoá khác. Một số sản phẩm dệt may thuộc diện phải đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về hoá chất trong sản phẩm; cần xem mặt hàng và mục đích nhập của mình có thuộc diện kiểm tra hay không trước khi hàng về.
Tự tra:
- Cổng thông tin điện tử của hải quan: biểu thuế, chú giải, thông báo kết quả phân loại các loại vải.
- Hệ thống khai hải quan điện tử: danh sách tờ khai theo loại hình, dùng để đối chiếu với kho.
- Cổng thông tin về hiệp định thương mại tự do của Bộ Công Thương: quy tắc xuất xứ cụ thể cho hàng dệt may.
- Đơn vị hải quan quản lý loại hình sản xuất xuất khẩu hoặc gia công: thủ tục thông báo cơ sở sản xuất, định mức.
Câu hỏi thường gặp
Nhập vải theo loại hình kinh doanh rồi dùng may hàng xuất khẩu có được lấy lại thuế không?
Có thể được hoàn thuế nhập khẩu đã nộp nếu chứng minh được vải đã dùng để sản xuất hàng thực xuất khẩu và đáp ứng điều kiện, hồ sơ theo quy định. Cách này đơn giản ở khâu nhập nhưng tốn công chứng minh ở khâu sau.
Vải pha đúng năm mươi năm mươi thì phân loại thế nào?
Khi không có vật liệu nào trội hơn về trọng lượng, hàng được xếp theo nhóm đứng sau cùng theo thứ tự số trong các nhóm cùng được xem xét. Cần có kết quả thành phần đáng tin cậy vì chỉ một chút lệch là thay đổi kết quả.
Phụ liệu nhập chung một hoá đơn với vải có được khai một dòng không?
Không nên. Mỗi loại phụ liệu có mã HS riêng, thuế suất và chính sách có thể khác nhau, và với loại hình sản xuất xuất khẩu hay gia công thì mỗi loại là một mã nguyên liệu trong định mức.
Vải nhập từ doanh nghiệp chế xuất trong nước có phải làm thủ tục hải quan không?
Có. Mua hàng từ doanh nghiệp chế xuất được coi như nhập khẩu và làm thủ tục xuất nhập khẩu tại chỗ. Thuế tính như hàng nhập khẩu, xuất xứ xác định theo quy tắc riêng.
Thành phẩm may từ vải nhập ngoài khối có ghi xuất xứ Việt Nam được không?
Nhãn xuất xứ không ưu đãi và xuất xứ ưu đãi theo hiệp định là hai câu hỏi khác nhau. Hàng có thể đạt xuất xứ Việt Nam theo quy tắc không ưu đãi nhưng vẫn không đạt quy tắc xuất xứ của một hiệp định cụ thể.
Có cần xin xác định trước mã số cho vải không?
Với loại vải nhập thường xuyên, khối lượng lớn, hoặc có cấu tạo đặc biệt như tráng phủ, ép lớp, việc xác định trước giúp tránh tranh chấp ở các lô sau. Với vải thông thường có đủ thông số, tự phân loại có hồ sơ thường là đủ.