Một sản phẩm chỉ được coi là có xuất xứ Việt Nam khi được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam, hoặc khi nguyên liệu nhập khẩu đã được biến đổi đủ sâu tại Việt Nam theo tiêu chí quy định — đổi mã HS, đạt tỷ lệ giá trị nội địa, hoặc trải qua công đoạn sản xuất cụ thể. Đóng gói, dán nhãn, lắp vài con ốc hay chia nhỏ hàng nhập về không đủ để ghi “Made in Vietnam”.
Ranh giới này ngày càng được soi kỹ. Nhiều thị trường áp thuế phòng vệ thương mại cao với hàng từ một số nước, nên hàng đi vòng qua Việt Nam rồi ghi xuất xứ Việt Nam là điểm nóng điều tra. Doanh nghiệp làm thật cũng phải có hồ sơ chứng minh được, không chỉ doanh nghiệp làm sai.
Nhãn “Made in Vietnam” và C/O là hai lớp khác nhau
Có hai câu hỏi thường bị gộp làm một:
- Được ghi nhãn xuất xứ Việt Nam không? Đây là xuất xứ không ưu đãi, theo quy định về ghi nhãn và quy tắc xác định hàng hoá có xuất xứ Việt Nam do Bộ Công Thương hướng dẫn.
- Được cấp C/O ưu đãi để người mua hưởng thuế thấp không? Đây là xuất xứ ưu đãi, theo quy tắc riêng của từng hiệp định — thường chặt hơn và khác nhau giữa các hiệp định.
Một sản phẩm có thể được ghi nhãn Việt Nam nhưng không đạt quy tắc xuất xứ của một hiệp định cụ thể, vì hiệp định đó đòi tỷ lệ giá trị cao hơn hoặc công đoạn cụ thể hơn. Ngược lại, hàng không đạt tiêu chí xuất xứ Việt Nam thì không nên ghi “Made in Vietnam”, kể cả khi người mua yêu cầu.
Con đường thứ nhất: xuất xứ thuần tuý
Hàng có xuất xứ thuần tuý là hàng được tạo ra hoàn toàn tại một nước, không dùng nguyên liệu nhập khẩu hoặc chỉ dùng nguyên liệu cũng có xuất xứ thuần tuý nước đó. Các ví dụ điển hình:
- Cây trồng và sản phẩm thu hoạch tại Việt Nam: lúa, cà phê, rau quả.
- Động vật sinh ra và nuôi tại Việt Nam, sản phẩm từ chúng.
- Khoáng sản khai thác tại Việt Nam.
- Thuỷ sản đánh bắt trong vùng biển Việt Nam, hoặc bởi tàu đáp ứng điều kiện của hiệp định.
- Hàng sản xuất chỉ từ các sản phẩm thuần tuý nói trên.
Điểm hay bị hiểu nhầm: gạo xay xát từ lúa trồng tại Việt Nam là thuần tuý, nhưng cà phê rang xay từ hạt nhập khẩu thì không — nó phải đi theo con đường thứ hai và xem có đạt chuyển đổi cơ bản hay không.
Con đường thứ hai: chuyển đổi cơ bản, đo bằng ba thước
Phần lớn hàng công nghiệp dùng nguyên liệu nhập khẩu, nên xuất xứ được xét theo chuyển đổi cơ bản: nguyên liệu nhập về phải được biến đổi đủ để thành một sản phẩm mới. Có ba thước đo, hiệp định hoặc quy định có thể dùng một, kết hợp hoặc cho chọn:
| Thước đo | Hiểu nôm na | Ví dụ |
|---|---|---|
| Chuyển đổi mã số | Mã HS của sản phẩm khác mã HS của nguyên liệu nhập khẩu ở cấp chương, nhóm hoặc phân nhóm | Vải nhập về may thành áo: mã của áo khác chương với vải |
| Hàm lượng giá trị | Phần giá trị tạo ra trong nước (hoặc trong khối hiệp định) chiếm tối thiểu một tỷ lệ phần trăm giá sản phẩm | Linh kiện nội địa, nhân công, chi phí sản xuất, lợi nhuận cộng lại đạt ngưỡng |
| Công đoạn cụ thể | Sản phẩm phải trải qua một công đoạn sản xuất nhất định | Một số hàng dệt may phải cắt và may, thậm chí từ vải dệt trong khối |
Mức phần trăm và tiêu chí cụ thể khác nhau theo từng hiệp định và từng dòng hàng, được liệt kê trong quy tắc cụ thể mặt hàng. Đừng áp con số của hiệp định này cho hiệp định khác. Nhiều hiệp định còn cho phép cộng gộp nguyên liệu có xuất xứ từ nước thành viên khác, và có mức tối thiểu cho phép một phần nhỏ nguyên liệu không đạt chuyển đổi mã số — tất cả đều theo quy định riêng của hiệp định đó.
Công đoạn gia công đơn giản: vì sao không tạo ra xuất xứ
Mọi bộ quy tắc xuất xứ đều có một danh sách các công đoạn tự nó không đủ để hàng có xuất xứ, dù có làm đổi mã HS hay không. Các công đoạn hay được liệt kê:
- Bảo quản hàng trong quá trình vận chuyển, lưu kho: làm lạnh, thông gió, phơi khô.
- Tháo dỡ, đóng gói lại, chia nhỏ, gộp kiện, đóng chai, đóng hộp, dán nhãn, in mác.
- Lau chùi, sàng lọc, phân loại, sơn phủ đơn giản, đánh bóng.
- Lắp ráp đơn giản các bộ phận thành sản phẩm hoàn chỉnh, pha trộn đơn giản.
- Giết mổ động vật, bóc vỏ, tách hạt ở mức đơn giản.
Định nghĩa “đơn giản” thường là công đoạn không cần kỹ năng, máy móc hay thiết bị chuyên dụng được sản xuất hoặc lắp đặt riêng cho việc đó. Nhập áo hoàn chỉnh về cắt mác cũ, may mác mới thì vẫn là áo của nước sản xuất ra nó. Nhập bộ linh kiện đủ bộ về chỉ bắt vít thành quạt cũng khó gọi là sản xuất tại Việt Nam.
Rủi ro khi ghi sai xuất xứ
Ghi xuất xứ Việt Nam cho hàng không đạt tiêu chí không phải lỗi hành chính nhỏ. Hệ quả có thể đến từ hai phía:
- Phía Việt Nam: xử phạt về ghi nhãn, về khai sai xuất xứ khi xuất khẩu; C/O đã cấp bị thu hồi; doanh nghiệp bị đưa vào diện kiểm tra kỹ hơn cho các lô sau.
- Phía nước nhập khẩu: xác minh xuất xứ, từ chối ưu đãi và truy thu, áp thuế chống lẩn tránh, thậm chí mở rộng biện pháp phòng vệ thương mại sang cả ngành hàng của Việt Nam — tức là làm hại cả những doanh nghiệp làm thật.
Người mua nước ngoài đề nghị “chỉ cần gửi hàng qua Việt Nam, thay bao bì, xin C/O Việt Nam” là tín hiệu đáng từ chối ngay. Lợi nhuận của đơn hàng đó không bù được rủi ro cho doanh nghiệp đứng tên xuất khẩu.
Tự đánh giá xuất xứ một sản phẩm và chỗ tự tra
Trước khi in nhãn hay xin C/O, có thể tự làm một bảng đánh giá cho từng mã sản phẩm:
- Liệt kê toàn bộ nguyên liệu, linh kiện theo định mức sản xuất, kèm mã HS và nước xuất xứ của từng loại.
- Ghi giá trị từng loại theo chứng từ mua: tờ khai nhập khẩu với hàng nhập, hoá đơn với hàng mua trong nước.
- Mô tả các công đoạn thực hiện tại nhà máy, loại máy móc dùng, số lao động.
- Đối chiếu với tiêu chí áp dụng: tiêu chí xác định xuất xứ Việt Nam cho nhãn, và quy tắc cụ thể mặt hàng của từng hiệp định nếu muốn xin C/O ưu đãi.
- Lưu bảng này cùng chứng từ gốc. Khi đổi nhà cung cấp nguyên liệu, làm lại.
Nguồn tra: văn bản của Bộ Công Thương về xác định xuất xứ hàng hoá Việt Nam và về quy tắc xuất xứ trong từng hiệp định; cổng thông tin về các hiệp định thương mại tự do của Bộ Công Thương; cơ quan cấp C/O nơi doanh nghiệp đăng ký hồ sơ thương nhân. Với phần mã HS của nguyên liệu, dùng phần tra cứu biểu thuế trên cổng thông tin điện tử của hải quan.
Câu hỏi thường gặp
Hàng nhập khẩu về đóng gói lại có được ghi “Đóng gói tại Việt Nam” không?
Ghi thông tin về nơi đóng gói là việc khác với ghi xuất xứ. Nhãn vẫn phải thể hiện đúng xuất xứ thật của hàng. Cách ghi cụ thể cần tra quy định về nhãn hàng hoá hiện hành để không gây hiểu nhầm cho người mua.
Nguyên liệu mua của doanh nghiệp trong nước có chắc là nguyên liệu Việt Nam không?
Không chắc. Doanh nghiệp trong nước có thể bán lại hàng nhập khẩu. Khi tính xuất xứ cần xác nhận của người bán về xuất xứ nguyên liệu, hoặc coi là không có xuất xứ nếu không chứng minh được.
Chi phí nhân công và lợi nhuận có được tính vào hàm lượng giá trị không?
Thường có, theo công thức tính hàm lượng giá trị của từng hiệp định hoặc quy định. Nhưng các khoản phải có chứng từ, sổ sách chứng minh, và cách tính trực tiếp hay gián tiếp phải theo đúng công thức của văn bản áp dụng.
Đạt tiêu chí xuất xứ Việt Nam thì có chắc được C/O cho mọi hiệp định không?
Không. Mỗi hiệp định có quy tắc cụ thể mặt hàng riêng, có hiệp định chặt hơn đáng kể. Cần kiểm tra lại theo đúng hiệp định của thị trường xuất khẩu.
Người mua yêu cầu ghi “Made in Vietnam” cho hàng chỉ lắp ráp đơn giản thì sao?
Không nên làm theo. Doanh nghiệp đứng tên xuất khẩu chịu trách nhiệm về xuất xứ khai báo, và rủi ro bị điều tra ở nước nhập khẩu thuộc về hàng hoá mang tên Việt Nam. Có thể đề xuất ghi đúng xuất xứ thật hoặc đầu tư thêm công đoạn để đạt tiêu chí.
Hồ sơ chứng minh xuất xứ nên giữ trong bao lâu?
Tối thiểu theo thời hạn mà từng hiệp định và quy định Việt Nam yêu cầu, tính theo năm. Cách an toàn là lưu cùng bộ chứng từ kế toán của năm đó, vì chứng từ kế toán dùng ghi sổ phải lưu ít nhất 10 năm theo Luật Kế toán.